Thép hộp nhúng nóng: quy trình mạ kẽm, tiêu chuẩn lớp mạ và báo giá

Thép hộp nhúng nóng là thép hộp vuông hoặc chữ nhật được nhúng ngập trong bể kẽm nóng chảy khoảng 450 °C, để kẽm phản ứng luyện kim với thép và tạo lớp phủ dày, phủ kín cả mặt trong lẫn mặt ngoài. Đây là lựa chọn dành cho kết cấu phơi mưa nắng nhiều năm mà chủ đầu tư không muốn bảo trì thường xuyên. Trang này giải thích quy trình mạ, chiều dày lớp mạ theo tiêu chuẩn, cách phân biệt với hộp mạ kẽm thường, những chi tiết thiết kế bắt buộc phải xử lý khi nhúng hộp kín, và cách hỏi báo giá sao cho nhận được con số đúng ngay lần đầu.

  • Nhúng ngập trong kẽm nóng chảy khoảng 440–460 °C, lớp mạ bám bằng liên kết luyện kim Fe–Zn chứ không chỉ bám cơ học.
  • Chiều dày lớp mạ theo TCVN 5408:2007 (tương đương ISO 1461): trung bình tối thiểu 45–85 µm tùy chiều dày thép nền.
  • Hộp cán từ tôn mạ kẽm chỉ có lớp kẽm mỏng cỡ một con số micromet mỗi mặt, mép cắt và đường hàn không có kẽm.
  • Hộp kín bắt buộc phải khoan lỗ thoát khí – thoát kẽm, nếu không có nguy cơ nổ bể do hơi nước bị bẫy bên trong.
  • Thứ tự đúng là gia công – hàn – làm sạch xỉ hàn rồi mới nhúng kẽm, không nhúng trước rồi hàn sau.
  • Giá tính theo đ/kg; phần lớn hàng nhúng nóng trên thị trường là hộp đen đem mạ, nên giá gồm giá phôi hộp cộng phí mạ.

Thép hộp nhúng nóng là gì

Về phôi, sắt hộp nhúng nóng vẫn là thép hộp thông thường: thép cuộn cán nóng hoặc cán nguội được xẻ băng, cán tròn, hàn cao tần theo đường sinh rồi nắn thành tiết diện vuông hoặc chữ nhật. Điểm khác nằm hoàn toàn ở công đoạn bảo vệ bề mặt. Thay vì phủ sơn hoặc dùng phôi đã tráng kẽm sẵn, cây hộp được đưa nguyên vào bể kẽm lỏng. Ở nhiệt độ đó, sắt và kẽm khuếch tán vào nhau và hình thành nhiều lớp hợp kim Fe–Zn nằm sát nền thép, bên trên cùng mới là lớp kẽm gần như nguyên chất. Cấu trúc nhiều lớp này giải thích vì sao lớp mạ nhúng nóng khó bong: nó không nằm đè lên bề mặt thép mà ăn vào bề mặt thép.

Lớp kẽm còn bảo vệ theo cơ chế hy sinh. Khi bề mặt bị xước tới nền thép hoặc bị cắt hở mép, kẽm quanh vết thương ăn mòn trước và giữ cho phần thép hở không bị gỉ lan. Với vết xước nhỏ, cơ chế này đủ để chỗ hở tự được che chắn, điều mà màng sơn không làm được — sơn bị xước ở đâu là gỉ khởi phát ngay ở đó rồi bong ngược vào trong.

Một điểm cần nói thẳng về thị trường Việt Nam: gần như không có dây chuyền cán hộp nào nhúng kẽm nóng liên tục cho hộp thành phẩm theo kiểu nhà máy làm với ống tròn. Vì vậy hàng được gọi là thép hộp mạ kẽm nhúng nóng thường là hộp đen đã cắt, khoan, hàn xong rồi mang tới xưởng mạ nhúng theo lô. Điều này chi phối toàn bộ cách đặt hàng, cách tính giá và cả cách thiết kế chi tiết, sẽ nói kỹ ở các phần dưới. Nếu công trình chỉ cần chống gỉ mức trung bình trong nhà, dùng hàng cán sẵn từ tôn kẽm sẽ nhanh và rẻ hơn nhiều — xem thêm nhóm thép hộp các loại để so sánh trước khi quyết định.

Quy trình mạ kẽm nhúng nóng gồm những bước nào

Chất lượng lớp mạ được quyết định ở khâu làm sạch chứ không phải ở bể kẽm. Kẽm lỏng chỉ bám được vào bề mặt thép thật sự sạch; chỗ nào còn dầu, còn gỉ, còn xỉ hàn hay còn sơn thì chỗ đó sẽ là lỗ hổng trên lớp mạ. Một dây chuyền mạ tiêu chuẩn đi qua các bước sau.

  1. Tẩy dầu mỡ. Nhúng trong dung dịch kiềm nóng để loại dầu cán, dầu bảo quản, vết mỡ tay và bụi dầu bám khi gia công. Bỏ qua bước này thì axit ở bể sau không ăn xuống được nền thép.
  2. Tẩy gỉ. Ngâm trong axit clohydric loãng để hòa tan gỉ sét và lớp vảy cán. Thời gian ngâm phụ thuộc mức gỉ; ngâm quá lâu làm thép bị ăn mòn cục bộ và ngấm hydro, ngâm thiếu thì gỉ còn sót.
  3. Rửa nước. Rửa sạch axit dư trước khi sang bể trợ dung, tránh mang axit làm hỏng dung dịch trợ dung.
  4. Trợ dung. Nhúng qua dung dịch muối kẽm clorua – amoni clorua. Lớp muối này ngăn bề mặt thép tái oxy hóa trong lúc chờ và giúp kẽm lỏng thấm ướt đều khi vào bể.
  5. Sấy khô. Sấy cho bay hết ẩm. Chi tiết còn đọng nước mà nhúng thẳng vào kẽm lỏng sẽ gây bắn kẽm dữ dội — đây là lý do an toàn quan trọng nhất của cả quy trình.
  6. Nhúng bể kẽm. Hạ chi tiết vào bể kẽm nóng chảy ở khoảng 440–460 °C, giữ đến khi chi tiết đạt nhiệt độ bể và phản ứng tạo lớp hợp kim hoàn tất, rồi nhấc lên với tốc độ có kiểm soát để kẽm thừa chảy hết.
  7. Làm nguội. Làm nguội trong không khí hoặc nhúng nước, tùy yêu cầu bề mặt và tùy việc có cần thụ động hóa chống gỉ trắng hay không.
  8. Kiểm tra và hoàn thiện. Mài bỏ giọt kẽm đọng ở mép và chỗ treo móc, kiểm tra ngoại quan, đo chiều dày lớp mạ bằng máy đo cảm ứng từ và lập biên bản kiểm tra theo lô.

Hai hệ quả thực tế cần nhớ. Thứ nhất, nhiệt độ 450 °C sẽ giải phóng ứng suất dư tích tụ khi cán và khi hàn, nên chi tiết mỏng, dài hoặc hàn không đối xứng có thể vênh nhẹ sau khi nhúng; với khung cửa, lan can cần độ thẳng cao thì nên báo trước cho xưởng mạ để bố trí điểm treo và có bước nắn sau mạ. Thứ hai, kích thước bể mạ giới hạn kích thước chi tiết. Trước khi chốt phương án chia đoạn kết cấu, hãy hỏi kích thước bể của xưởng sẽ mạ, vì chi tiết dài hơn bể sẽ phải nhúng hai lần và để lại đường ranh trên bề mặt.

Tiêu chuẩn lớp mạ: ASTM A123, ISO 1461 và TCVN 5408

Khi đặt hàng, thứ cần ghi vào hợp đồng không phải là chữ “mạ kẽm nhúng nóng” mà là tiêu chuẩn lớp mạ kèm chiều dày yêu cầu. Ở Việt Nam, văn bản gốc là TCVN 5408:2007 về lớp phủ kẽm nhúng nóng trên bề mặt sản phẩm gang và thép, chấp nhận hoàn toàn tương đương ISO 1461. Tiêu chuẩn này không quy định một con số duy nhất cho mọi sản phẩm, mà quy định theo chiều dày thép nền: thép càng dày thì yêu cầu lớp mạ càng dày, vì thép dày ngậm nhiệt lâu hơn và phản ứng tạo hợp kim diễn ra nhiều hơn.

Chiều dày thép nền Lớp mạ cục bộ tối thiểu (µm) Lớp mạ trung bình tối thiểu (µm) Khối lượng lớp mạ trung bình tối thiểu (g/m²)
Trên 6 mm 70 85 610
Trên 3 mm đến 6 mm 55 70 505
Từ 1,5 mm đến 3 mm 45 55 395
Dưới 1,5 mm 35 45 325

Bảng trên áp dụng cho chi tiết không ly tâm, tức là phần lớn kết cấu hộp thông thường. Giá trị “cục bộ” là mức tối thiểu cho từng điểm đo riêng lẻ, còn “trung bình” là mức tối thiểu tính bình quân trên toàn chi tiết. Cách quy định hai tầng này ngăn tình huống một góc mỏng bị che lấp bởi một mặt dày. Quy đổi giữa hai đơn vị rất đơn giản: mỗi micromet kẽm tương ứng khoảng 7,2 g/m², nên khi nhà cung cấp báo “lớp mạ 500 g/m²” thì bạn hiểu ngay là khoảng 70 µm.

Hệ Mỹ dùng ASTM A123, cũng phân theo chiều dày thép nhưng thêm một tầng phân loại nữa là nhóm sản phẩm. Điểm này hay bị bỏ sót khi nghiệm thu: thép hộp vuông và chữ nhật được xếp vào nhóm ống và hộp (pipe and tubing) chứ không phải nhóm thép hình kết cấu (structural shapes), và hai nhóm có ngưỡng khác nhau.

Chiều dày thép nền Nhóm ống và hộp – trung bình tối thiểu (µm) Nhóm thép hình kết cấu – trung bình tối thiểu (µm)
Dưới 1,6 mm 45 45
Trên 1,6 mm đến 3,2 mm 45 65
Trên 3,2 mm đến 4,8 mm 75 75
Trên 4,8 mm đến 6,4 mm 75 75
Trên 6,4 mm đến 16 mm 75 100
Trên 16 mm 75 100

Nguyên nhân của khoảng chênh ở dải 1,6–3,2 mm nằm ở thành phần thép: phôi làm ống và hộp thường là thép khử oxy bằng nhôm, phản ứng tạo hợp kim Fe–Zn yếu hơn so với thép có hàm lượng silic cao thường dùng cho thép hình, nên cùng một bể kẽm vẫn cho lớp mạ mỏng hơn. Vì thế, nếu hồ sơ thiết kế ghi “mạ kẽm nhúng nóng theo ASTM A123” mà không nói rõ nhóm sản phẩm, hãy thống nhất bằng văn bản ngay từ đầu để tránh tranh cãi khi đo nghiệm thu. Khi cần tra cứu thêm hệ tiêu chuẩn áp dụng trong nước, tham khảo trang tiêu chuẩn thép xây dựng Việt Nam.

Thép hộp nhúng nóng khác thép hộp mạ kẽm thường ở đâu

Hai loại hàng này cùng được gọi là “hộp mạ kẽm” ngoài thị trường nhưng bản chất rất khác. Hộp mạ kẽm thường — nhiều nơi gọi là hộp kẽm, hộp tôn kẽm — được cán từ cuộn tôn đã tráng kẽm sẵn. Lớp kẽm hình thành từ trước trên mặt tôn phẳng, ký hiệu theo khối lượng lớp mạ tính cho cả hai mặt, ví dụ Z80, Z120, Z180 nghĩa là 80, 120, 180 g/m². Chia đôi cho hai mặt rồi quy ra micromet thì mỗi mặt chỉ còn khoảng 5 đến 13 µm, tức mỏng hơn hàng chục lần so với ngưỡng thấp nhất của TCVN 5408. Quan trọng hơn, khi tấm tôn bị xẻ băng và hàn thành hộp, mép cắt và đường hàn dọc bị nung chảy nên không còn kẽm; đó luôn là nơi gỉ khởi phát đầu tiên trên hộp cán từ tôn kẽm.

Tiêu chí Hộp mạ kẽm nhúng nóng Hộp mạ kẽm thường (cán từ tôn kẽm)
Cách tạo lớp mạ Nhúng cây hộp thành phẩm vào kẽm lỏng 450 °C Cán từ cuộn tôn đã tráng kẽm sẵn
Chiều dày lớp kẽm 45–85 µm trở lên theo TCVN 5408 Khoảng 5–13 µm mỗi mặt tùy ký hiệu Z
Mặt trong lòng hộp Có kẽm, do kẽm lỏng tràn vào qua lỗ thoát Có kẽm trên phần tôn, trừ đường hàn
Mép cắt và đường hàn Được phủ kẽm sau khi cắt và hàn Trơ thép đen, là điểm gỉ đầu tiên
Bề mặt Xám bạc hoặc xám mờ, có hoa kẽm và vệt chảy nhẹ Sáng bóng, đều màu, phẳng mịn
Liên kết lớp mạ Liên kết luyện kim, nhiều lớp hợp kim Fe–Zn Lớp kẽm phủ, mỏng và dễ trầy khi va chạm
Giá thành Cao hơn, cộng thêm chi phí gia công mạ theo kg Thấp hơn, có sẵn theo barem nhà máy
Phù hợp với Ngoài trời, ven biển, môi trường ẩm và hóa chất Trong nhà, có mái che, môi trường khô ráo

Về tuổi thọ, cần tránh cả hai thái cực: nói đại một con số năm, hoặc trả lời chung chung là “rất bền”. Cách làm nghiêm túc theo hướng dẫn của ISO 14713-1 là ước tính từ tốc độ ăn mòn kẽm của môi trường, phân loại theo ISO 9223 thành các mức C1 đến CX. Tốc độ ăn mòn kẽm năm đầu theo phân loại này là: C1 không quá 0,1 µm mỗi năm; C2 trên 0,1 đến 0,7; C3 trên 0,7 đến 2,1; C4 trên 2,1 đến 4,2; C5 trên 4,2 đến 8,4; CX trên 8,4 µm mỗi năm. Lấy chiều dày lớp mạ chia cho tốc độ ăn mòn của môi trường lắp đặt là ra khoảng thời gian tới khi lớp kẽm bị tiêu hao hết. Ví dụ, lớp mạ 85 µm đặt trong môi trường công nghiệp hoặc ven biển thuộc nhóm C4 và tính theo tốc độ kịch trần 4,2 µm mỗi năm sẽ cho khoảng hai chục năm; cũng lớp mạ đó đặt ở nông thôn khô ráo thuộc nhóm C2 thì con số lớn hơn nhiều lần. Đây là phép ước tính kỹ thuật để so sánh phương án, không phải cam kết bảo hành, và kết quả thay đổi theo vị trí cụ thể, hướng đón gió biển, mức đọng nước và mức bụi hóa chất.

Quy cách và trọng lượng hộp kẽm nhúng nóng

Vì hàng nhúng nóng đi từ phôi hộp đen nên dải quy cách giống hệt hộp đen thông dụng: hộp vuông từ 12×12 mm đến 100×100 mm và các cỡ lớn hơn theo đơn đặt, hộp chữ nhật từ 10×30 mm đến 100×200 mm, chiều dài tiêu chuẩn 6 m. Độ dày thị trường quen gọi theo “ly” hay “dem”, trong đó một ly bằng một milimet; hộp 50×50 dày 2 ly nghĩa là thành 2,0 mm. Bảng dưới là trọng lượng lý thuyết tính theo tiết diện danh nghĩa, chưa trừ bán kính góc bo, nên thường cao hơn barem nhà máy khoảng 1–2 phần trăm. Nếu cần tính cho quy cách không có trong bảng, dùng công thức tính khối lượng thép.

Quy cách (mm) Độ dày (mm) Trọng lượng lý thuyết (kg/cây 6 m) Giá tham khảo (đ/kg) Tạm tính (đ/cây 6 m)
30 x 30 1,4 7,54 19.500 – 22.500 147.000 – 170.000
40 x 40 1,4 10,18 19.500 – 22.500 199.000 – 229.000
40 x 40 2,0 14,32 19.500 – 22.500 279.000 – 322.000
50 x 50 1,8 16,35 19.500 – 22.500 319.000 – 368.000
50 x 50 2,5 22,37 19.500 – 22.500 436.000 – 503.000
60 x 60 2,0 21,85 19.500 – 22.500 426.000 – 492.000
75 x 75 2,5 34,15 19.500 – 23.000 666.000 – 785.000
90 x 90 3,0 49,17 19.500 – 23.000 959.000 – 1.131.000
100 x 100 3,0 54,82 19.500 – 23.000 1.069.000 – 1.261.000
30 x 60 1,8 14,65 19.500 – 22.300 286.000 – 327.000
40 x 80 2,0 21,85 19.500 – 22.300 426.000 – 487.000
50 x 100 2,5 34,15 19.500 – 22.500 666.000 – 768.000
60 x 120 3,0 49,17 19.500 – 22.500 959.000 – 1.106.000
100 x 150 3,0 68,95 20.500 – 22.500 1.413.000 – 1.551.000
100 x 200 4,0 110,03 20.500 – 22.500 2.256.000 – 2.476.000
150 x 150 trở lên Theo đơn Theo barem Liên hệ Liên hệ

Giá tham khảo thị trường, tổng hợp tháng 09/2026, chưa gồm VAT và phí vận chuyển; giá thực tế thay đổi theo ngày, khối lượng và địa điểm giao. Liên hệ 0967 483 714 để nhận báo giá chính xác.

Hai quy cách được hỏi nhiều nhất trong nhóm này là thép hộp 50×50 cho khung giàn và lan can, và thép hộp 50×100 cho dầm phụ và khung cổng. Danh mục đầy đủ theo tiết diện nằm ở trang thép hộp vuông và thép hộp chữ nhật.

Giá thép hộp nhúng nóng được tính thế nào

Thép hộp bán theo kilogram, nên đơn giá đ/kg mới là con số để so sánh giữa các nhà cung cấp; giá đ/cây chỉ là đơn giá nhân với trọng lượng barem. Khi hỏi giá thép hộp nhúng nóng, hãy để ý ba điều thường gây lệch khi so giá: barem trọng lượng mỗi nơi dùng một bảng hơi khác nhau, giá có thể đã hoặc chưa gồm VAT, và hàng nhúng nóng còn cộng thêm chi phí gia công mạ.

Nhóm hàng Đơn vị Giá tham khảo (đ/kg)
Thép hộp đen (phôi để mang đi mạ) kg 14.500 – 17.900
Thép hộp mạ kẽm cán từ tôn kẽm kg 15.000 – 18.900
Thép hộp mạ kẽm nhúng nóng kg 19.500 – 23.000
Thép hộp cỡ lớn, hàng đen kg 15.780 – 18.150
Thép hộp cỡ lớn, mạ kẽm kg 16.400 – 19.000
Thép hộp cỡ lớn nhúng nóng, hàng đặt kg Liên hệ

Giá tham khảo thị trường, tổng hợp tháng 09/2026, chưa gồm VAT và phí vận chuyển; giá thực tế thay đổi theo ngày, khối lượng và địa điểm giao. Liên hệ 0967 483 714 để nhận báo giá chính xác.

Khoảng chênh giữa hộp đen và hộp nhúng nóng chính là phần gia công mạ, thường được xưởng mạ tính theo kilogram thành phẩm và phụ thuộc vào chi tiết nặng hay nhẹ: chi tiết càng mỏng, càng nhiều mặt thì diện tích bề mặt trên mỗi kilogram càng lớn, kẽm tiêu hao càng nhiều nên đơn giá mạ càng cao. Ngoài ra, khối lượng lô nhỏ thường phải chịu giá cao hơn vì bể kẽm vẫn phải vận hành đủ mẻ. Để đối chiếu mặt bằng chung của hai nhóm hàng còn lại, xem giá thép hộp mạ kẽm và giá thép hộp đen.

Để nhận báo giá dùng được ngay, thông tin cần gửi gồm: quy cách và độ dày từng loại, tổng khối lượng hoặc số cây từng quy cách, tiêu chuẩn lớp mạ mong muốn, chiều dài cắt nếu khác 6 m, địa điểm giao và điều kiện xe vào công trình, cùng yêu cầu chứng từ. Thiếu tiêu chuẩn lớp mạ là thiếu sót hay gặp nhất và cũng là nguyên nhân khiến hai báo giá chênh nhau vài nghìn đồng mỗi kilogram mà không ai sai.

Thiết kế chi tiết hộp kín: lỗ thoát khí và lỗ thoát kẽm

Đây là phần quan trọng nhất của cả trang, và cũng là phần hay bị bỏ qua nhất khi xưởng cơ khí gửi hàng đi mạ lần đầu. Thép hộp là tiết diện rỗng kín. Khi hàn bịt đầu hoặc hàn bản mã kín, bên trong hình thành một khoang khí kín. Nhúng khoang kín đó vào kẽm lỏng 450 °C thì hơi ẩm và dung dịch còn sót bên trong hóa hơi tức thì, áp suất tăng vọt và có thể làm nổ tung chi tiết ngay trong bể — tài liệu kỹ thuật của các hiệp hội mạ kẽm ghi nhận áp suất phát sinh có thể lên tới khoảng 25 MPa. Đây là rủi ro an toàn lao động thực sự, nên hầu hết xưởng mạ sẽ từ chối nhận chi tiết hộp kín không có lỗ thoát.

Các nguyên tắc thực hành được dùng phổ biến, phù hợp với khuyến nghị của ASTM A385 và các sổ tay thiết kế mạ nhúng nóng:

  • Phương án tốt nhất là để hở hoàn toàn hai đầu thanh hộp. Không có gì thoát khí tốt bằng đầu thanh để trống, và kẽm cũng chảy ra hết.
  • Nếu bắt buộc bịt đầu, khoan tối thiểu hai lỗ ở mỗi đầu, đặt chéo góc đối nhau để khí thoát ra ở điểm cao nhất còn kẽm chảy xuống ở điểm thấp nhất theo tư thế treo.
  • Đường kính lỗ tối thiểu nên lấy từ 10–13 mm và không nhỏ hơn chiều dày thành thép; với tiết diện lớn, tổng kích thước lỗ nên tương đương ít nhất một phần tư đường chéo tiết diện.
  • Khoan lỗ càng sát góc và sát đầu thanh càng tốt, tránh để lại túi khí ở góc. Không đặt lỗ ở chính giữa bản bịt đầu, vì như vậy dung dịch vẫn đọng ở vành mép.
  • Với khung giàn nhiều thanh giao nhau, mỗi khoang kín phải có lỗ riêng; một lỗ cho cả cụm là không đủ vì mối hàn ngăn khoang này với khoang kia.
  • Bản mã, sườn gia cường nên vát góc để kẽm chảy thoát, thay vì hàn kín ba cạnh tạo túi đọng.

Vị trí lỗ nên thống nhất với xưởng mạ từ khâu bản vẽ, vì lỗ còn phải nằm ở chỗ không ảnh hưởng khả năng chịu lực và không lộ ra mặt nhìn thấy của công trình. Với lan can và hàng rào, đặt lỗ ở mặt khuất phía trong là cách xử lý thẩm mỹ đơn giản.

Nhúng sau gia công: trình tự đúng và những lỗi thường gặp

Nguyên tắc chung là hoàn tất mọi thao tác cắt, khoan, hàn trước khi mạ, rồi mới nhúng cả cụm. Nhúng trước rồi hàn sau sẽ đốt cháy lớp kẽm quanh mối hàn, để lại vành thép trơ rộng hàng chục milimet mà chỉ có thể vá bằng biện pháp phục hồi tại chỗ. Trường hợp buộc phải hàn sau mạ, hãy phục hồi khu vực hư hỏng theo hướng dẫn của ASTM A780 bằng sơn giàu kẽm hoặc phun kẽm, với chiều dày lớp phục hồi ít nhất bằng lớp mạ xung quanh.

Những lỗi khiến lô hàng bị trả về hoặc phải mạ lại:

  • Còn xỉ hàn. Axit tẩy gỉ không hòa tan được xỉ hàn. Chỗ nào còn xỉ, chỗ đó không có kẽm. Phải gõ và chải sạch xỉ trước khi giao hàng đi mạ.
  • Còn sơn hoặc bút sơn đánh dấu. Sơn dầu, sơn chống gỉ và cả vết sơn đánh số cấu kiện đều không bị tẩy trong dây chuyền thông thường. Hãy đánh dấu bằng cách đóng số chìm hoặc buộc thẻ kim loại.
  • Mối hàn không liên tục ở khe chồng mí. Hai tấm chồng lên nhau mà hàn hở sẽ hút axit vào khe; axit đó trào ra sau khi mạ và làm chảy vệt gỉ trên bề mặt mới. Hoặc hàn kín toàn bộ chu vi, hoặc chừa khe đủ rộng để dung dịch chảy ra và kẽm vào được.
  • Chi tiết quá dài so với bể. Phải nhúng hai lần và để lại đường ranh rõ ở giữa thân; nếu bề mặt cần đẹp thì phải chia đoạn ngay từ thiết kế.
  • Không chừa dung sai cho lớp mạ. Lớp kẽm dày vài chục micromet làm bulông khó xỏ và ống lồng khó vào. Lỗ bắt bulông nên khoan rộng hơn, và cần thống nhất trước việc có ta rô lại ren sau mạ hay không.

Ứng dụng thực tế của thép hộp nhúng nóng

Hộp kẽm nhúng nóng chỉ đáng tiền ở những vị trí mà chi phí bảo trì về sau lớn hơn phần chênh giá ban đầu. Các nhóm ứng dụng điển hình:

  • Kết cấu phơi ngoài trời lâu dài. Khung mái che, khung pa nô, khung giàn không gian ngoài trời, cổng và hàng rào biệt thự — những chỗ mà việc dựng giàn giáo sơn lại mỗi vài năm tốn hơn nhiều so với mạ một lần từ đầu.
  • Công trình ven biển và vùng nhiễm mặn. Hơi muối đẩy môi trường lên nhóm ăn mòn cao, nơi lớp kẽm mỏng của hộp cán tôn kẽm gần như không có ý nghĩa. Đây cũng là nhóm cần chú ý nhất tới việc thoát nước cho tiết diện rỗng, tránh nước mặn đọng bên trong.
  • Nhà kính và nhà màng nông nghiệp. Bên trong nhà màng độ ẩm gần bão hòa gần như cả ngày, lại thường xuyên phun nước và phân bón lá; khung hộp nhúng nóng là giải pháp phổ biến vì gần như không thể sơn bảo trì khi đã căng màng và trồng cây bên dưới.
  • Trụ đèn, trụ camera, khung biển báo và biển quảng cáo. Trụ cắm ngoài đường chịu mưa tạt, bụi và nước bẩn bắn lên chân trụ; chân trụ và bản đế là nơi hỏng trước nên cần lớp mạ phủ kín cả mặt trong.
  • Giá đỡ tấm pin mặt trời. Hệ giá đỡ đặt trên mái hoặc trên mặt đất, tuổi thọ thiết kế theo vòng đời dự án điện mặt trời, không có điều kiện bảo trì bề mặt thường xuyên; các cấu kiện hộp và thanh chống thường được yêu cầu mạ nhúng nóng theo tiêu chuẩn ghi rõ chiều dày.
  • Lan can cầu, lan can hành lang và rào chắn giao thông. Vừa phơi ngoài trời vừa bị tay người chạm liên tục, lại khó sơn lại khi đã đưa vào khai thác.

Khi tính toán tiết diện cho các ứng dụng chịu lực, nhớ rằng lớp mạ không làm tăng khả năng chịu lực; tiết diện và độ dày vẫn phải chọn theo tải trọng. Có thể đối chiếu sơ bộ bằng bảng tra sức chịu tải của thép hộp trước khi chốt quy cách.

Kinh nghiệm chọn mua và kiểm tra hàng tại công trình

Việc kiểm tra hàng nhúng nóng không khó, chỉ cần làm đúng thứ tự và làm ngay khi xe về, trước khi ký nhận.

  1. Nhìn tổng thể bề mặt. Bề mặt mạ nhúng nóng đạt yêu cầu phải liên tục, không có mảng trơ thép, không có vết phồng rộp. Màu xám bạc hoặc xám mờ, có hoa kẽm rõ hoặc không tùy thành phần bể, đều là bình thường. Vệt kẽm chảy nhẹ và chỗ hơi sần cũng là đặc trưng của công nghệ, không phải lỗi.
  2. Kiểm tra mép cắt và đầu thanh. Nhìn vào mặt cắt đầu thanh: hàng nhúng nóng thật có vành kẽm rõ cả ở mặt trong lòng hộp. Nếu lòng hộp trơ thép đen thì đó là hộp cán từ tôn mạ kẽm chứ không phải hàng nhúng.
  3. Sờ và gõ giọt kẽm. Giọt kẽm đọng ở mép hoặc chỗ móc treo phải được mài bỏ, nhất là ở mặt tiếp xúc và chỗ lắp ghép, vì một giọt kẽm dày sẽ làm hở khe lắp.
  4. Đo chiều dày lớp mạ. Dùng máy đo chiều dày lớp phủ theo nguyên lý cảm ứng từ, đặt vuông góc với bề mặt sạch và phẳng, đo nhiều điểm trên một vùng rồi lấy trung bình, đối chiếu với ngưỡng cục bộ và ngưỡng trung bình của TCVN 5408. Không đo ở góc bo, ở mối hàn hay ngay trên giọt kẽm vì kết quả sẽ sai lệch.
  5. Đo kích thước và độ dày thép nền. Dùng thước cặp đo cạnh và thành ống ở đầu thanh. Thành thực tế mỏng hơn nhiều so với công bố là nguyên nhân phổ biến khiến khối lượng giao thiếu mà vẫn đủ số cây.
  6. Kiểm đếm và đối chiếu chứng từ. Đếm số cây từng quy cách, cân đối chiếu nếu mua theo khối lượng, và yêu cầu chứng từ CO/CQ theo lô hàng cùng biên bản đo chiều dày lớp mạ nếu hợp đồng có quy định.

Dấu hiệu cần đặt câu hỏi ngay: bề mặt sáng bóng đều một cách bất thường trên cả cây, mặt trong lòng hộp không có kẽm, lớp mạ bong thành mảng khi gõ nhẹ, hoặc chiều dày đo được chỉ vài micromet. Ngoài ra, nếu hàng đã nằm kho lâu và bị bó chặt trong điều kiện ẩm, bề mặt có thể xuất hiện lớp bột trắng gọi là gỉ trắng; lớp bột mỏng thường chỉ ảnh hưởng thẩm mỹ nhưng vẫn nên chải sạch và đo lại chiều dày trước khi lắp dựng.

Đặt hàng thép hộp nhúng nóng tại Cường Phát Steel

Quy trình làm việc đơn giản và minh bạch: bạn gửi quy cách, độ dày, khối lượng hoặc số cây từng loại, tiêu chuẩn lớp mạ mong muốn và địa điểm giao; Cường Phát Steel tư vấn phương án phù hợp với môi trường lắp đặt, báo giá theo khối lượng thực tế của đơn hàng, xác nhận đơn và thời gian giao, giao tận công trình, kiểm đếm cùng bên nhận và cung cấp chứng từ CO/CQ theo lô hàng khi khách yêu cầu. Với hàng cần gia công mạ theo bản vẽ, hãy gửi kèm bản vẽ chi tiết để thống nhất vị trí lỗ thoát khí và phương án treo trước khi đưa đi mạ. Điều kiện xe vào công trình và cách bốc xếp được nêu ở trang chính sách vận chuyển; thông tin liên hệ đầy đủ ở trang liên hệ.

Cần báo giá nhanh? Gọi/Zalo 0967 483 714 – gửi quy cách và khối lượng, Cường Phát Steel báo giá theo đơn hàng.

Nếu đơn hàng của bạn có cả tiết diện tròn, tham khảo thêm trang thép ống mạ kẽm nhúng nóng để gộp chung một lần giao. Với hàng hộp thông dụng của nhà máy trong nước, xem trang thép hộp Hòa Phát.

Câu hỏi thường gặp về thép hộp nhúng nóng

Thép hộp nhúng nóng và thép hộp mạ kẽm có phải là một không?

Không. Hộp mạ kẽm bán sẵn ngoài thị trường được cán từ tôn đã tráng kẽm, lớp kẽm chỉ khoảng vài micromet mỗi mặt và mép cắt, đường hàn không có kẽm. Hộp nhúng nóng được nhúng cả cây vào kẽm lỏng sau khi đã cắt hàn xong, lớp mạ dày từ 45 µm trở lên theo TCVN 5408 và phủ kín cả mặt trong. Hai loại chênh nhau đáng kể về giá và về tuổi thọ ngoài trời.

Có thể mua sẵn thép hộp nhúng nóng đúng quy cách cần không?

Tùy quy cách. Một số cỡ thông dụng có sẵn tại kho do đã mạ theo lô lớn. Các quy cách ít gặp, chiều dài đặc biệt hoặc kết cấu đã gia công theo bản vẽ thì phải đặt và chờ theo mẻ mạ. Hãy gửi danh mục quy cách kèm khối lượng để được xác nhận hàng sẵn hay hàng đặt ngay khi báo giá.

Cắt sắt hộp nhúng nóng tại công trình có làm hỏng lớp bảo vệ không?

Mặt cắt sẽ trơ thép, nhưng với tiết diện thép hộp thông thường thì kẽm xung quanh vẫn bảo vệ hy sinh cho mép cắt ở mức nhất định. Dù vậy, nên quét sơn giàu kẽm lên mặt cắt và mối hàn tại chỗ theo hướng dẫn của ASTM A780, đặc biệt với công trình ven biển. Tốt nhất vẫn là cắt đủ kích thước trước khi mang đi mạ.

Vì sao phải khoan lỗ trên thanh hộp trước khi nhúng?

Vì tiết diện rỗng bị hàn bịt kín sẽ giữ hơi ẩm bên trong; khi hạ xuống bể kẽm 450 °C, hơi nước giãn nở đột ngột và có thể làm nổ chi tiết trong bể. Lỗ thoát khí và thoát kẽm vừa bảo đảm an toàn, vừa cho kẽm lỏng vào phủ mặt trong rồi chảy ra hết, tránh đọng kẽm làm nặng và lệch cấu kiện.

Lớp mạ dày bao nhiêu là đạt?

Theo TCVN 5408:2007 tương đương ISO 1461, thép nền dưới 1,5 mm cần trung bình tối thiểu 45 µm; từ 1,5 đến 3 mm cần 55 µm; trên 3 đến 6 mm cần 70 µm; trên 6 mm cần 85 µm. Nếu hồ sơ dùng ASTM A123, thép hộp thuộc nhóm ống và hộp với ngưỡng 45 hoặc 75 µm tùy chiều dày. Nên ghi rõ tiêu chuẩn áp dụng trong hợp đồng để có căn cứ nghiệm thu.

Bề mặt hộp nhúng nóng không đều màu, có phải hàng lỗi không?

Phần lớn là không. Màu xám đậm nhạt khác nhau, có hoa kẽm hoặc không, có vệt chảy nhẹ đều là đặc điểm bình thường của công nghệ nhúng và không phản ánh chiều dày lớp mạ. Chỉ nên coi là lỗi khi có mảng trơ thép, lớp mạ phồng rộp bong ra, hoặc đo chiều dày không đạt ngưỡng của tiêu chuẩn đã thỏa thuận.

Đánh giá