Thép ống nhúng nóng: tiêu chuẩn BS 1387, quy cách phi và báo giá

Thép ống nhúng nóng là ống thép hàn được nhúng ngập trong kẽm nóng chảy, cho lớp kẽm bám chắc ở cả mặt ngoài lẫn lòng ống, nên dùng được cho đường ống dẫn nước, hệ chữa cháy và kết cấu ngoài trời. Khó khăn lớn nhất khi mua loại hàng này không phải là chọn thương hiệu mà là gọi đúng tên quy cách: cùng một cây ống, người thì gọi phi 60, người gọi DN50, hồ sơ thiết kế lại ghi 2 inch hạng trung. Trang này giải mã hệ quy cách theo BS 1387 và EN 10255, bảng quy đổi phi – DN – inch kèm độ dày ba hạng, cách phân biệt ống nhúng kẽm thật với hàng mạ điện phân, và giá tham khảo.

  • Thép ống nhúng nóng theo BS 1387:1985 và EN 10255 chia ba hạng theo chiều dày thành ống: nhẹ, trung, nặng; hạng trung phổ biến nhất cho cấp nước và PCCC.
  • Ba hạng phân biệt bằng vạch sơn màu quanh thân ống: nhẹ màu nâu, trung màu xanh dương, nặng màu đỏ.
  • Cùng DN nhưng đường kính ngoài theo hệ BS và hệ ASTM A53 có thể lệch nhau, rõ nhất ở DN65 và DN150.
  • Hàng nhúng nóng có kẽm ở cả lòng ống; ống mạ điện phân và ống cán từ tôn kẽm thì lòng ống và đường hàn dọc trơ thép.
  • Đo bằng máy đo lớp phủ cảm ứng từ là cách kết luận nhanh nhất: hàng nhúng nóng cho vài chục micromet, hàng mạ điện phân chỉ vài micromet.
  • Ren ống theo hệ BS 21, 14 ren mỗi inch cho DN15–DN20 và 11 ren mỗi inch từ DN25 trở lên; ren xong phải phục hồi lớp kẽm ở phần ren.

Thép ống nhúng nóng là gì và khác gì các loại ống kẽm khác

Phôi của ống kẽm nhúng nóng là ống thép đen hàn cao tần: băng thép cán nóng được cán tròn rồi hàn khép kín theo đường sinh, nắn thẳng, cắt cây 6 m. Sau đó cả cây ống đen đi qua dây chuyền làm sạch và nhúng vào bể kẽm lỏng, kẽm tràn vào cả lòng ống. Chi tiết từng bước làm sạch và nhúng được trình bày ở trang thép hộp mạ kẽm nhúng nóng; ở đây chỉ cần nhớ kết quả: lớp kẽm hình thành sau khi ống đã thành hình, nên nó phủ cả mặt trong, mặt ngoài và cả vùng đường hàn.

Trên thị trường Việt Nam có ba loại hàng thường bị gọi lẫn là “ống kẽm”:

  • Ống thép nhúng kẽm nóng. Ống đen thành phẩm nhúng bể kẽm. Lớp mạ dày, có ở cả lòng ống, chịu được môi trường ẩm và nước chảy bên trong. Đây là loại hồ sơ kỹ thuật muốn nói khi ghi “hot-dip galvanized”.
  • Ống mạ kẽm điện phân. Ống đen được mạ kẽm bằng dòng điện trong bể dung dịch ở nhiệt độ thường. Lớp kẽm rất mỏng và rất đều, bề mặt sáng bóng, thường chỉ dùng cho mục đích trang trí, nội thất, khung kệ trong nhà.
  • Ống cán từ tôn mạ kẽm. Cuộn tôn đã tráng kẽm sẵn được xẻ băng rồi cán và hàn thành ống. Mặt ngoài có kẽm mỏng, nhưng đường hàn dọc bị nung chảy nên không còn kẽm, và lòng ống thường lộ vệt cháy đen dọc theo mối hàn.

Ba loại này chênh nhau đáng kể về giá và về tuổi thọ, nhưng nhìn thoáng qua trong bó hàng thì khá giống nhau. Phần “cách phân biệt” phía dưới sẽ nói kỹ; còn nếu công trình chỉ cần ống khung trong nhà, hàng đen hoặc hàng mạ kẽm thông thường đã đủ và rẻ hơn — xem giá ống thép đen và bảng giá ống thép mạ kẽm để cân nhắc.

Tiêu chuẩn BS 1387 và EN 10255: ba hạng nhẹ, trung, nặng

Hầu hết ống thép nước và ống PCCC bán ở Việt Nam làm theo BS 1387:1985, tiêu chuẩn Anh cho ống thép hàn dùng để ren và hàn nối, sau này được thay bằng BS EN 10255. Điểm cốt lõi của hệ tiêu chuẩn này là: với mỗi cỡ danh nghĩa DN, đường kính ngoài giữ gần như cố định để ren và phụ kiện lắp lẫn được, còn chiều dày thành ống thì chia làm ba hạng.

  • Hạng nhẹ. Thành mỏng nhất, dùng cho đường ống áp lực thấp, ống luồn dây, ống thoát, khung đỡ nhẹ. Vạch sơn nhận dạng màu nâu.
  • Hạng trung. Loại thông dụng nhất cho cấp nước sinh hoạt, hệ chữa cháy và khí nén. Vạch sơn màu xanh dương.
  • Hạng nặng. Thành dày nhất, dùng khi áp lực cao, khi ống chôn ngầm chịu tải, hoặc khi cần chiều dày dự phòng cho ăn mòn. Vạch sơn màu đỏ.

Vạch màu là dấu nhận dạng chính thức của tiêu chuẩn: một vạch sơn rộng khoảng 50 mm, sơn cách mỗi đầu ống chừng 300 mm. Khi nhận hàng, đây là thứ nên kiểm tra trước cả thước cặp, vì nhìn từ xa đã biết lô hàng thuộc hạng nào. Nếu cây ống không có vạch màu hoặc vạch màu không khớp với chiều dày đo được, cần hỏi lại nhà cung cấp.

Về cơ tính, thép làm ống theo BS 1387 có giới hạn bền kéo trong khoảng 320–460 N/mm², giới hạn chảy tối thiểu 195 N/mm² và độ giãn dài tối thiểu 20 phần trăm. Tiêu chuẩn cũng quy định bộ phép thử mà nhà máy phải làm: thử kín bằng áp lực nước 50 bar hoặc thử dòng xoáy, thử ép bẹp cho ống lớn hơn DN50, thử uốn nguội, và với ống mạ kẽm thì thử lớp mạ bằng dung dịch sunfat đồng — sau bốn lần nhúng liên tiếp mỗi lần một phút, mẫu thử không được xuất hiện lớp đồng kim loại màu đỏ bám dính. Dung sai chiều dày cũng khác nhau giữa các hạng: hạng nhẹ cho phép âm 8 phần trăm, hạng trung và hạng nặng cho phép âm 10 phần trăm, không giới hạn dung sai dương. Con số này lý giải vì sao cây ống ghi 3,2 mm mà đo thực tế được 2,9 mm vẫn có thể là hàng đạt chuẩn.

Bảng quy đổi phi – DN – inch của thép ống nhúng nóng

Người mua hàng ở Việt Nam quen gọi theo phi, tức đường kính ngoài làm tròn. Hồ sơ thiết kế lại ghi DN, là cỡ danh nghĩa gần với đường kính trong. Bản vẽ của nhà thầu nước ngoài thì ghi inch. Bảng dưới đây gộp cả ba cách gọi kèm chiều dày ba hạng.

Gọi theo phi DN Inch Đường kính ngoài theo BS 1387 / EN 10255 (mm) Đường kính ngoài theo ASTM A53 (mm) Dày hạng nhẹ (mm) Dày hạng trung (mm) Dày hạng nặng (mm) Khối lượng hạng trung (kg/m)
Phi 21 DN15 1/2 21,3 21,3 2,0 2,6 3,2 1,21
Phi 27 DN20 3/4 26,9 26,7 2,3 2,6 3,2 1,56
Phi 34 DN25 1 33,7 33,4 2,6 3,2 4,0 2,41
Phi 42 DN32 1 1/4 42,4 42,2 2,6 3,2 4,0 3,10
Phi 49 DN40 1 1/2 48,3 48,3 2,9 3,2 4,0 3,57
Phi 60 DN50 2 60,3 60,3 2,9 3,6 4,5 5,03
Phi 76 DN65 2 1/2 76,1 73,0 3,2 3,6 4,5 6,43
Phi 90 DN80 3 88,9 88,9 3,2 4,0 5,0 8,37
Phi 114 DN100 4 114,3 114,3 3,6 4,5 5,4 12,20
Phi 141 DN125 5 139,7 141,3 không có 4,85 5,4 16,60
Phi 168 DN150 6 165,1 168,3 không có 5,0 5,4 19,70
Phi 219 DN200 8 ngoài phạm vi BS 1387 219,1 không có theo đơn theo đơn theo barem

Ba lưu ý rút ra từ bảng này, đều là chỗ hay gây nhầm khi mua hàng và khi lắp ghép.

Thứ nhất, DN65 lệch nhau nhiều nhất. Theo hệ BS, phi 76 ứng với đường kính ngoài khoảng 76,1 mm; theo hệ ASTM A53 và ASME, cùng DN65 nhưng đường kính ngoài chỉ 73,0 mm. Ba milimet chênh lệch đủ để một bộ phụ kiện nối rãnh hoặc một mặt bích đặt theo hệ này không lắp được vào ống theo hệ kia. Khi đặt hàng phi 76, hãy nói rõ là theo hệ nào.

Thứ hai, phi 141 và phi 168 gần như luôn là hàng hệ ASTM. Ống trong nước ở hai cỡ này thường có đường kính ngoài 141,3 mm và 168,3 mm, không phải 139,7 và 165,1 như bảng BS 1387. Bảng BS cũng dừng ở DN150, nên phi 219 và lớn hơn phải tra theo hệ ASTM A53 hoặc theo barem riêng của nhà máy.

Thứ ba, hạng nhẹ không có ở cỡ lớn. Từ DN125 trở lên, BS 1387 chỉ còn hạng trung và hạng nặng. Ai quen tư duy “chọn hạng nhẹ cho rẻ” sẽ hụt hẫng khi lên cỡ lớn.

Ngoài hệ ba hạng, còn một hệ quy cách nữa hay gặp trong hồ sơ cơ điện là hệ Schedule của Mỹ, ký hiệu Sch 40, Sch 80. Cùng DN50 thì Sch 40 có thành 3,91 mm, dày hơn hạng trung BS một chút; DN100 Sch 40 có thành 6,02 mm, dày hơn hẳn hạng nặng BS là 5,4 mm. Vì vậy không thể coi Sch 40 tương đương hạng trung; phải đối chiếu từng cỡ. Các quy cách phổ biến nhất trong nhóm này đều có trang riêng: ống thép phi 60, ống thép phi 114, ống thép phi 168 và ống thép phi 219.

Tiêu chuẩn ASTM A53 và yêu cầu lớp mạ

Khi hồ sơ thiết kế viện dẫn tiêu chuẩn Mỹ, tên xuất hiện nhiều nhất là ASTM A53. Tiêu chuẩn này bao trùm ống thép đen và ống thép mạ kẽm nhúng nóng, hàn và đúc, phân theo kiểu chế tạo và mác thép:

  • Type F – ống hàn nối đối đầu trong lò, chỉ có mác A.
  • Type E – ống hàn điện trở, có cả mác A và mác B. Đây là kiểu phổ biến nhất của hàng sản xuất trong nước.
  • Type S – ống đúc liền, có mác A và mác B.
  • Grade A – giới hạn bền kéo tối thiểu 330 MPa, giới hạn chảy tối thiểu 205 MPa.
  • Grade B – giới hạn bền kéo tối thiểu 415 MPa, giới hạn chảy tối thiểu 240 MPa.

Về lớp mạ, ASTM A53 quy định theo khối lượng kẽm trên đơn vị diện tích chứ không theo micromet: không nhỏ hơn 0,55 kg/m² tính trung bình, và mỗi mẫu riêng lẻ không dưới 0,49 kg/m². Cần đọc kỹ chỗ này vì khối lượng đó tính cho tổng cả mặt trong và mặt ngoài, không phải cho từng mặt. Trong khi đó ISO 1461 và TCVN 5408 lại quy định theo chiều dày từng mặt, với ngưỡng trung bình tối thiểu 45 µm cho thép nền dưới 1,5 mm và tăng dần tới 85 µm cho thép nền trên 6 mm. Hai cách quy định khác nhau nên khi hợp đồng yêu cầu đồng thời cả hai tiêu chuẩn, phải nói rõ lấy phép đo nào làm căn cứ nghiệm thu.

ASTM A123 thì phân theo nhóm sản phẩm, và ống thép thuộc nhóm ống và hộp với chiều dày lớp mạ trung bình tối thiểu 45 µm cho thép nền tới 3,2 mm và 75 µm cho thép nền dày hơn. Hàng sản xuất trong nước ở dải phi 21,2 đến phi 219,1 thường được công bố theo BS 1387:1985 và ASTM A53 — thông tin này theo công bố của nhà sản xuất, và nên đối chiếu với chứng chỉ chất lượng của đúng lô hàng nhận được. Xem thêm nhóm hàng thép ống Hòa Phát nếu hồ sơ yêu cầu chỉ định nhà máy, và trang tiêu chuẩn thép xây dựng Việt Nam để tra hệ tiêu chuẩn trong nước.

Giá thép ống nhúng nóng và cách đọc báo giá

Ống thép bán theo kilogram. Giá đ/cây chỉ là đơn giá đ/kg nhân với trọng lượng barem của quy cách đó, nên khi so giá giữa hai nơi phải so ở cùng một đơn vị và cùng một hạng. Sai lầm phổ biến nhất là so giá cây phi 60 của bên A với cây phi 60 của bên B mà quên rằng bên A báo hạng nhẹ, bên B báo hạng trung — chênh nhau cả kilogram thép trên mỗi mét dài.

Nhóm hàng Đơn vị Giá tham khảo (đ/kg)
Ống thép đen kg 17.350 – 20.100
Ống thép mạ kẽm thông thường kg 18.700 – 20.300
Ống thép mạ kẽm nhúng nóng kg 24.400 – 27.050
Ống nhúng nóng cỡ lớn từ phi 219 trở lên kg Liên hệ

Giá tham khảo thị trường, tổng hợp tháng 09/2026, chưa gồm VAT và phí vận chuyển; giá thực tế thay đổi theo ngày, khối lượng và địa điểm giao. Liên hệ 0967 483 714 để nhận báo giá chính xác.

Bảng dưới quy đổi sang giá mỗi cây 6 m cho các quy cách hạng trung thông dụng, lấy trọng lượng theo bảng của BS 1387 và nhân với khoảng đơn giá ở trên, làm tròn đến hàng nghìn.

Quy cách hạng trung DN Độ dày (mm) Trọng lượng (kg/cây 6 m) Tạm tính (đ/cây 6 m)
Phi 21 DN15 2,6 7,26 177.000 – 196.000
Phi 27 DN20 2,6 9,36 228.000 – 253.000
Phi 34 DN25 3,2 14,46 353.000 – 391.000
Phi 42 DN32 3,2 18,60 454.000 – 503.000
Phi 49 DN40 3,2 21,42 523.000 – 579.000
Phi 60 DN50 3,6 30,18 736.000 – 816.000
Phi 76 DN65 3,6 38,58 941.000 – 1.044.000
Phi 90 DN80 4,0 50,22 1.225.000 – 1.358.000
Phi 114 DN100 4,5 73,20 1.786.000 – 1.980.000
Phi 141 DN125 4,85 99,60 2.430.000 – 2.694.000
Phi 168 DN150 5,0 118,20 2.884.000 – 3.197.000
Phi 219 DN200 Theo đơn Theo barem Liên hệ

Giá tham khảo thị trường, tổng hợp tháng 09/2026, chưa gồm VAT và phí vận chuyển; giá thực tế thay đổi theo ngày, khối lượng và địa điểm giao. Liên hệ 0967 483 714 để nhận báo giá chính xác.

Những yếu tố làm giá dịch chuyển: giá phôi và giá kẽm thế giới, hạng ống và chiều dày cụ thể, tổng khối lượng đơn hàng, việc có ren sẵn kèm măng sông hay để đầu trơn, chiều dài cắt theo yêu cầu, và địa điểm giao cùng điều kiện xe vào công trình. Để nhận giá ống thép nhúng nóng chính xác ngay lần hỏi đầu tiên, hãy gửi đủ: cỡ ống theo phi hoặc DN, hạng hoặc chiều dày yêu cầu, tiêu chuẩn áp dụng, số cây hoặc tổng khối lượng từng cỡ, yêu cầu đầu ống trơn hay ren, và địa chỉ giao. Mẫu yêu cầu chi tiết hơn có ở trang báo giá thép ống; danh mục đầy đủ ở trang thép ống. Khi cần tự kiểm tra khối lượng một quy cách bất kỳ, dùng công thức tính khối lượng thép, với ống tròn thì lấy đường kính ngoài trừ chiều dày, nhân với chiều dày và nhân hệ số 0,02466 để ra kilogram mỗi mét.

Cách phân biệt ống nhúng nóng với ống mạ điện phân và ống tôn kẽm

Đây là kỹ năng đáng học vì khoảng chênh giá giữa ba loại đủ lớn để phát sinh nhầm lẫn, cố ý hoặc vô ý. Có thể kết luận bằng mắt thường trong đa số trường hợp, và kết luận chắc chắn bằng máy đo.

Nhận biết bằng mắt thường:

  • Nhìn vào lòng ống ở đầu cây. Đây là dấu hiệu quyết định. Ống nhúng nóng có kẽm phủ cả mặt trong, nhìn vào thấy màu xám bạc liên tục. Ống cán từ tôn kẽm có lòng ống lộ thép và thường thấy rõ một vệt sẫm màu chạy dọc theo đường hàn. Ống mạ điện phân có lòng ống hoặc trơ thép, hoặc chỉ có lớp mạ rất mỏng, nhạt màu.
  • Nhìn màu và độ bóng mặt ngoài. Hàng nhúng nóng có màu xám bạc tới xám mờ, không đều tuyệt đối, đôi khi thấy hoa kẽm dạng tinh thể và vệt kẽm chảy nhẹ theo chiều nhấc ống khỏi bể. Hàng mạ điện phân sáng bóng, mịn và đều màu như mạ trang trí.
  • Sờ bề mặt. Lớp nhúng nóng hơi nhám, có thể gợn nhẹ; lớp mạ điện phân trơn phẳng.
  • Nhìn đầu ống và mép cắt. Hàng nhúng nóng thường còn dấu vết kẽm đọng hoặc gờ kẽm mỏng ở vành đầu ống. Mép cắt tại công trình của ống nhúng nóng lộ ra một vành thép sáng kẹp giữa hai lớp kẽm trong và ngoài.
  • Tìm vạch sơn phân hạng và nhãn in. Ống làm theo BS 1387 có vạch màu nâu, xanh dương hoặc đỏ. Ống cán từ tôn kẽm dùng cho khung kệ thường không có hệ vạch này.

Kết luận bằng máy đo lớp mạ: dùng máy đo chiều dày lớp phủ theo nguyên lý cảm ứng từ, loại đo lớp phủ phi từ trên nền thép. Lau sạch bụi và dầu, đặt đầu dò vuông góc với thân ống ở đoạn thẳng, tránh đo trên đường hàn, trên vạch sơn hay trên giọt kẽm, đo nhiều điểm rải đều rồi lấy giá trị trung bình. Kết quả đọc rất dễ phân loại: thép ống nhúng nóng cho vài chục micromet, thường từ 45 µm trở lên tùy chiều dày thành ống; ống cán từ tôn kẽm chỉ cho khoảng năm tới mười lăm micromet; ống mạ điện phân thậm chí còn thấp hơn. Nếu không có máy, một cách kiểm tra bổ sung là phép thử sunfat đồng mà BS 1387 mô tả: nhúng mẫu bốn lần liên tiếp mỗi lần một phút vào dung dịch sunfat đồng, mẫu đạt sẽ không xuất hiện lớp đồng đỏ bám dính; phép thử này nên làm ở phòng thí nghiệm chứ không làm tại công trường.

Ren ống, khớp nối và mặt bích

Ưu điểm lớn của ống theo BS 1387 là hệ ren và phụ kiện đã chuẩn hóa từ lâu, lắp lẫn tốt. Ren dùng là ren côn theo BS 21, với 14 ren mỗi inch cho DN15 và DN20, và 11 ren mỗi inch từ DN25 trở lên. Ống bán theo dạng ren sẵn hai đầu thường đi kèm một măng sông gang dẻo vặn sẵn ở một đầu. Cần lưu ý ren hệ BS và ren NPT của hệ Mỹ có góc ren và bước ren khác nhau nên không lắp lẫn được; khi trong cùng một hệ thống có cả phụ kiện nhập theo hai hệ, phải kiểm tra trước để tránh rò rỉ ở mối nối.

Một vấn đề kỹ thuật ít người để ý: ren được tiện sau khi mạ sẽ cắt bỏ lớp kẽm ở chính phần ren, để lộ thép trần đúng chỗ tiếp xúc với nước. Cách xử lý thực hành gồm quét sơn giàu kẽm hoặc mỡ chống gỉ lên phần ren trước khi vặn, dùng băng tan hoặc keo làm kín ren chuyên dụng, và siết đủ lực chứ không siết quá tay làm nứt măng sông gang. Với hệ thống ngầm hoặc hệ nước có tính ăn mòn, nên hạn chế số mối ren bằng cách tăng chiều dài đoạn thẳng.

Các kiểu nối phổ biến cho ống nhúng kẽm:

  • Nối ren với măng sông, cút, tê, rắc co gang dẻo. Thông dụng cho cỡ nhỏ tới DN50, dễ thi công, dễ tháo lắp sửa chữa.
  • Nối bằng khớp rãnh. Đầu ống được lăn rãnh bằng máy chuyên dụng rồi kẹp bằng khớp nối có gioăng. Cách này không cần hàn nên giữ nguyên lớp kẽm, tháo lắp nhanh, rất phổ biến cho đường ống chữa cháy cỡ lớn. Cần lưu ý chiều dày thành ống tối thiểu cho việc lăn rãnh và phải chọn khớp đúng đường kính ngoài thực tế.
  • Mặt bích. Dùng khi nối với bơm, van, thiết bị. Mặt bích ren giữ được lớp mạ; mặt bích hàn thì phải phục hồi lớp kẽm ở vùng hàn theo hướng dẫn của ASTM A780 bằng sơn giàu kẽm hoặc phun kẽm.
  • Hàn trực tiếp. Chỉ nên dùng khi bắt buộc. Hàn trên ống mạ kẽm sinh khói kẽm độc, đòi hỏi thông gió và bảo hộ; đồng thời phá lớp mạ quanh mối hàn trên một vùng rộng, buộc phải phục hồi cả trong lẫn ngoài, mà mặt trong thì không phục hồi được.

Ứng dụng của ống thép nhúng nóng

  • Hệ thống phòng cháy chữa cháy. Đường ống chữa cháy vách tường và hệ chữa cháy tự động bằng nước là nhóm dùng ống kẽm nhúng nóng nhiều nhất, vì ống chứa nước tù lâu ngày và hồ sơ thẩm duyệt thường chỉ định ống mạ kẽm. Thông thường dùng hạng trung trở lên, cỡ từ phi 27 cho nhánh sprinkler tới phi 114 và phi 168 cho trục chính.
  • Cấp nước và thoát nước kỹ thuật. Ống đứng cấp nước nhà cao tầng, tuyến nước ngoài nhà, ống thoát nước ngưng, nơi cần độ cứng vững và khả năng chịu va đập mà ống nhựa không đáp ứng.
  • Đường khí nén trong nhà xưởng. Khí nén luôn mang hơi ẩm ngưng tụ; lòng ống có kẽm giúp hạn chế gỉ bong tróc theo dòng khí làm hỏng thiết bị và làm bẩn sản phẩm.
  • Giàn giáo và chống đỡ thi công. Ống phi 42 và phi 49 là cỡ giàn giáo quen thuộc; lớp kẽm giúp bộ giàn giáo dùng lại được nhiều công trình, kể cả khi phơi mưa ngoài bãi tập kết.
  • Lan can, tay vịn, khung mái che. Tiết diện tròn dễ uốn cong, dễ làm tay vịn liền mạch, và mặt tròn ít đọng nước hơn tiết diện vuông.
  • Kết cấu và hạ tầng nhà xưởng. Thanh giằng, cột đỡ nhẹ, khung đỡ đường ống và máng cáp, trụ cổng, khung cột đèn sân bãi.

Với những hạng mục vừa có ống tròn vừa có tiết diện vuông, đặt gộp một lần sẽ gọn hơn cho khâu vận chuyển và nghiệm thu; tham khảo thêm trang thép hộp nhúng nóng để đối chiếu quy cách.

Bảo quản và vận chuyển: phòng gỉ trắng

Thép ống nhúng nóng mới ra bể có bề mặt kẽm còn hoạt tính cao. Nếu bị đọng nước trong điều kiện không có không khí lưu thông — bó chặt, bọc kín bằng bạt hoặc nilon, xếp sát nền, chở qua mưa rồi để nguyên bó — bề mặt sẽ sinh một lớp bột trắng xốp gọi là gỉ trắng. Đây là sản phẩm ăn mòn của kẽm trong môi trường ẩm thiếu khí, không phải gỉ sắt, nhưng nó tiêu hao lớp kẽm nên vẫn cần xử lý.

Cách phòng ngừa đơn giản và hiệu quả:

  • Kê bó ống cao khỏi mặt nền bằng thanh gỗ hoặc giá kê, không đặt trực tiếp xuống đất hay xuống sàn bê tông ẩm.
  • Kê nghiêng nhẹ theo chiều dài để nước không đọng trong lòng ống và chảy thoát ra ngoài.
  • Chèn nẹp cách giữa các lớp ống để có khe thông gió, không xếp chồng ép sát.
  • Không bọc kín bằng bạt nhựa hoặc màng co; nếu phải che mưa thì che hở hai đầu để thoáng khí.
  • Ống bị ướt khi vận chuyển thì tháo bó, dựng nghiêng cho ráo rồi mới xếp lại.
  • Không tồn kho quá lâu ngoài trời; lô về trước dùng trước.

Nếu đã xuất hiện gỉ trắng, mức nhẹ dạng bột mỏng thường chỉ ảnh hưởng thẩm mỹ: chải bằng bàn chải cứng không kim loại, lau khô rồi để thoáng, lớp kẽm bên dưới vẫn còn. Mức nặng, lớp bột dày, bám chắc, bên dưới đã thấy điểm tối màu thì cần đo lại chiều dày lớp mạ; nếu không còn đạt ngưỡng tiêu chuẩn thì phải xử lý phục hồi hoặc thay thế. Khi nhận hàng, nên kiểm tra ngay trước khi ký biên bản, vì gỉ trắng phát sinh trong quá trình lưu kho của bên mua sẽ khó quy trách nhiệm về sau.

Đặt hàng thép ống nhúng nóng tại Cường Phát Steel

Cách làm việc theo trình tự quen thuộc: bạn gửi cỡ ống theo phi hoặc DN, hạng hoặc chiều dày, tiêu chuẩn áp dụng, số lượng từng cỡ, yêu cầu về đầu ống trơn hay ren kèm măng sông, chiều dài cắt nếu khác 6 m và địa điểm giao. Cường Phát Steel tư vấn hạng ống phù hợp với áp lực và môi trường sử dụng, báo giá theo khối lượng thực tế, xác nhận đơn hàng và thời gian giao, giao tận công trình, kiểm đếm cùng bên nhận và cung cấp chứng từ CO/CQ theo lô hàng khi khách yêu cầu. Với đơn có ống cỡ lớn hoặc số lượng nhiều cây dài, nên trao đổi trước về đường vào và phương án hạ hàng — chi tiết ở trang chính sách vận chuyển. Mọi kênh liên lạc có ở trang liên hệ.

Cần báo giá nhanh? Gọi/Zalo 0967 483 714 – gửi quy cách và khối lượng, Cường Phát Steel báo giá theo đơn hàng.

Câu hỏi thường gặp về thép ống nhúng nóng

Nên chọn hạng nhẹ, hạng trung hay hạng nặng?

Hạng trung là mặc định hợp lý cho cấp nước và hệ chữa cháy vì cân bằng giữa chiều dày và giá. Hạng nhẹ phù hợp cho ống luồn dây, ống thoát không áp và khung đỡ nhẹ. Hạng nặng dùng khi áp lực cao, khi ống chôn ngầm chịu tải hoặc khi cần chiều dày dự phòng ăn mòn. Nếu hồ sơ thiết kế đã chỉ định hạng thì theo hồ sơ, đừng thay hạng để giảm giá.

Phi 60 và DN50 có phải cùng một cỡ không?

Đúng, đó là hai cách gọi của cùng một cỡ ống 2 inch, đường kính ngoài khoảng 60,3 mm. Phi là cách gọi theo đường kính ngoài làm tròn, DN là cỡ danh nghĩa gần với đường kính trong. Điều cần nói thêm khi đặt hàng là hạng hoặc chiều dày, vì cùng phi 60 vẫn có ba chiều dày thành khác nhau.

Ống nhúng nóng dùng cho nước sinh hoạt được không?

Ống thép mạ kẽm từ lâu vẫn được dùng cho tuyến cấp nước trong công trình, và lớp kẽm phủ mặt trong chính là điểm khác biệt so với ống mạ kẽm thông thường. Tuy vậy, việc lựa chọn vật liệu cho từng hạng mục phải theo hồ sơ thiết kế và quy định áp dụng cho công trình đó; hãy đối chiếu với thiết kế cơ điện trước khi chốt vật tư.

Cắt và hàn ống nhúng nóng tại công trường có được không?

Cắt thì được, nhưng phải quét sơn giàu kẽm lên mặt cắt. Hàn thì nên hạn chế: hồ quang đốt cháy lớp kẽm quanh mối hàn, sinh khói kẽm cần thông gió và bảo hộ, và mặt trong ống gần như không thể phục hồi lớp mạ. Với đường ống áp lực, ưu tiên nối ren hoặc nối bằng khớp rãnh thay vì hàn.

Làm sao biết cây ống đang cầm là nhúng nóng thật?

Nhìn vào lòng ống ở đầu cây: có kẽm phủ liên tục là hàng nhúng nóng, còn lộ thép và có vệt sẫm dọc đường hàn là ống cán từ tôn kẽm. Bề mặt ngoài xám mờ có hoa kẽm và vệt chảy nhẹ cũng là dấu hiệu của hàng nhúng. Muốn chắc chắn thì đo bằng máy đo lớp phủ cảm ứng từ, hàng nhúng nóng cho vài chục micromet trong khi hàng mạ mỏng chỉ cho vài micromet.

Ống bị phủ bột trắng sau khi để kho có phải bỏ đi không?

Không nhất thiết. Lớp bột trắng mỏng là gỉ trắng, sinh ra do đọng nước trong điều kiện bí khí, chỉ ảnh hưởng thẩm mỹ; chải sạch, lau khô và xếp thông thoáng lại là dùng được. Chỉ khi lớp bột dày, bám chắc và chiều dày lớp mạ đo lại không còn đạt ngưỡng tiêu chuẩn thì mới phải xử lý phục hồi hoặc thay thế.

Đánh giá